Đề xuất xây dựng phòng cầu nguyện ở cảng biển cho thuyền viên nước ngoài. “Cần phải chú trọng đến sức khoẻ tinh thần”

(圖/新事社會服務中心漁工組)
(Nguồn ảnh: Tổ thuyền viên của Trung tâm dịch vụ xã hội Xinshi)

Đài Loan bốn bề là biển, nguồn thuỷ hải sản dồi dào, nhưng lại thiếu thuyền viên. Vài năm gần đây, nguồn nhân lực biển của Đài Loan chủ yếu dựa vào thuyền viên nước ngoài. Theo báo cáo của Viện Kiểm sát, tính tới cuối tháng 9/2020, Đài Loan có 1106 tàu viễn dương, 22.000 thuyền viên đánh cá người nước ngoài. Các tàu đánh cá này hoạt động ở ba đại dương lớn và dùng 32 cảng trên thế giới. Tuy nhiên, quyền lợi của thuyền viên ở Đài Loan đã là mối quan tâm lớn với Chính phủ và các tổ chức phi chính phủ. Năm ngoái 2020, Đài Loan lần đầu được đưa vào danh sách “Danh sách các quốc gia sản xuất hàng hóa sử dụng lao động trẻ em hoặc lao động cưỡng bức” ấn phẩm thứ 9 do Mỹ công bố vào năm ngoái 2020. Hiện nay, Mỹ, Canada và Mexico đã ra văn bản cấm nhập khẩu các mặt hàng được cho là cưỡng bức sản xuất.

外籍漁工們長期駐紮在港口,除了高工時和低薪,有些漁工被雇主偷騙薪水,有些漁工只能住在漁船上,一開始連洗澡的地方都沒有,無論冬天還夏天,都只能在港口邊沖澡。「這對外籍漁工來說,不只是身體上的折磨,心理上更不舒服。」長期探訪漁工的新事社會服務中心漁工組專員李正新說。「有些漁港還是觀光大港,你想旁邊有時經過年輕女孩或小孩,要工作一整天卻必須露天洗澡的漁工情何以堪?」

Thuyền viên nước ngoài đóng tại cảng lâu năm, ngoài giờ làm việc nhiều, lương thấp, một số thuyền viên còn bị lừa tiền lương, một số chỉ có thể mưu sinh trên thuyền đánh cá, đến chỗ tắm rửa cũng không có, bất kể mùa đông hay mùa hè chỉ có thể tắm rửa ở cảng biển. “Điều này đối với thuyền viên nước ngoài mà nói, không chỉ là hành hạ về mặt thể xác mà còn cả tinh thần”. Chuyên viên Tổ thuyền viên của Trung tâm dịch vụ xã hội Xinshi, ông Lý Chính Tân (李正新) cho biết,  “Một số cảng biển vẫn là cảng tham quan lớn, thử nghĩ xem thường xuyên có trẻ nhỏ và phụ nữ trẻ đi qua, những thuyền viên này làm việc cả ngày trời buộc phải ở trần tắm, họ sẽ cảm thấy thế nào?”

許多非營利組織紛紛提倡要在港邊設置盥洗室,但李正新卻認為除了盥洗室,祈禱也相當重要。曾經旅居印尼11年的李正新時常跟印尼漁工溝通了解狀況,他發現一些小港的外籍漁工總訴說著,希望能夠像大港一樣,在港邊有提供熱水的洗澡間及乾淨的祈禱室,但這些希望總是說說就覺得算了,他們認為沒人會去注意到小漁港的外籍漁工,更何況港邊的設施。曾經在異鄉漂泊的李正新覺得,一個人或許可以偶爾忍受身體上的折磨,但信仰被阻礙反而更容易使人崩潰。

Nhiều tổ chức phi chính phủ đã ủng hộ việc xây nhà vệ sinh ở cảng biển, nhưng ông Lý Chính Tân cho rằng, ngoài việc vệ sinh thì việc cầu nguyện cũng rất quan trọng. Ông Lý Chính Tân từng sống ở Indonesia 11 năm, thường xuyên trao đổi để tìm hiểu tình hình của thuyền viên Indonesia. Ông nhận thấy có nhiều thuyền viên ở cảng biển nhỏ nói rằng rất mong có thể giống như các cảng biển lớn, có phòng vệ sinh nước nóng và phòng cầu nguyện sạch sẽ. Nhưng những mong muốn này chỉ là nói vậy thôi! Chẳng có ai chú ý đến thuyền viên nước ngoài ở cảng biển nhỏ bé như họ chứ đừng nói là thiết bị ở cảng biển. Từng lang thang phiêu bạt ở nước ngoài, ông Lý Chính Tân thấy rằng, một người đôi khi có thể chịu giày vò về mặt thể xác, nhưng đức tin bị cản trở càng dễ khiến con người gục ngã hơn.

「我是虔誠基督徒,在印尼工作的時候也會有想家或辛苦的時候,那時候我都會跟上帝祈禱。所以我很能理解外籍漁工想維持信仰的心情。」李正新說,外籍漁工絕大部分來自於印尼,許多印尼籍外籍漁工的宗教信仰是伊斯蘭教,也就是俗稱的回教。本正常每天應當有五次面向麥加方向祈禱敬拜,祈禱敬拜時應當潔淨自身的口鼻耳及手腳,在一個乾淨的室內地方進行祈禱。但是目前在台灣工作的外籍漁工,他們的工作及生活居住都是在船上,礙於工作的忙碌和船上狹小的空間,因此祈禱及盥洗只能在甲板上,有時候只能有一次的祈禱,但若是時間允許,他們也是會完成每日五次的祈禱,透過祈禱安穩自己的身心靈,祈求阿拉可以保佑他們在異鄉的一切平安,直到返國與家人再次團聚。

Ông Lý Chính Tân nói, “Tôi là tín đồ Cơ đốc, khi làm việc ở Indonesia cũng thấy rất nhớ nhà và vất vả. Khi đó, tôi thường cầu nguyện với Thượng đế. Vì vậy, tôi có thể hiểu tấm lòng duy trì đức tin của những thuyền viên nước ngoài này”. Thuyền viên nước ngoài đa phần là người Indonesia, rất nhiều người theo đạo Hồi. Vốn dĩ mỗi ngày phải quay mặt về Mecca cầu nguyện 5 lần, khi cầu nguyện phải vệ sinh thân thể sạch sẽ, ngồi cầu nguyện ở không gian sạch sẽ. Nhưng với thuyền viên nước ngoài ở Đài Loan, cuộc sống và công việc đều ở trên thuyền, do công việc bận rộn và không gian trên thuyền nhỏ nên họ chỉ có thể cầu nguyện và tắm rửa trên boong tàu. Đôi khi họ chỉ có thể cầu nguyện một lần, nhưng nếu có thời gian 1 chút, họ cũng sẽ cầu nguyện 5 lần/ngày. Thông qua những lời cầu nguyện giúp họ ổn định cơ thể, tâm trí và linh hồn. Cầu thánh Allah phù hộ cho họ bình an ở nơi xa lạ, cho tới ngày bình an đoàn tụ bên gia đình.

因為聽到訴求,新事開始規劃、進行調查,實地走訪、勘查直接服務有外籍漁工的二十一個漁港,訪談了102位漁工,了解各港內漁工們祈禱及盥洗的實際狀況並收集他們的意見,同時查看港內適合設置盥洗室和祈禱室的位置,過程中所遇到的漁工們個個都帶著靦腆的笑容,讓新事的社工們相當心疼,認為他們即便遭遇挫折,仍然強忍,令人不捨。

Sau khi nghe các yêu cầu, Trung tâm Xinshi bắt đầu lên kế hoạch, điều tra và khảo sát 21 cảng biển, phỏng vấn 102 thuyền viên nước ngoài, tìm hiểu thực tế việc vệ sinh và cầu nguyện của họ. Đồng thời thu thập ý kiến, điều tra địa điểm thích hợp lắp đặt thiết bị vệ sinh và cầu nguyện. Quá trình này đều gặp phải những nụ cười ngại ngùng của thuyền viên, khiến  nhân viên công tác xã hội của Trung tâm Xinshi vô cùng đau lòng. Những thuyền viên này dù gặp phải nhiều giày vò nhưng vẫn nhẫn nhịn, thật xót xa.

希望藉由信仰力量撫平心中的躁動,這是訪談眾多漁工們後聽到的訴求。李正新表示,訪談中有好幾位漁工說道,「有時候有些同鄉或是自己,因為一些事情影響了情緒,可能來自於家鄉或是工作上的狀況,讓他們心情煩悶焦躁,常常透過飲酒來短暫忘卻煩惱及放鬆心情,但有時候喝太多卻會讓情緒失控,所以他們希望,若是港邊有個乾淨的祈禱室,當他們遇到情緒問題時,可以透過祈禱的力量,安撫自己的內心,讓自己可以靜下來,不用再透過酒精的方式來解決。」 

Sức mạnh của đức tin sẽ vơi đi nỗi khắc khoải trong lòng, đây là lời nói tôi nghe được nhiều nhất sau phỏng vấn. Ông Lý cũng chia sẻ, trong lúc phỏng vấn, cũng có vài người giảng đạo “Đôi khi một vài người đồng hương hoặc chính họ, gặp phải một vài chuyện, có thể từ gia đình hoặc công việc khiến họ lo lắng, suy nghĩ, thường uống rượu để tạm thời quên đi phiền não, nhưng đôi khi uống nhiều lại ảnh hưởng tới khống chế cảm xúc. VÌ vậy chúng tôi hy vọng, nếu có phòng cầu nguyện sạch sẻ ở cảng biển, khi có chuyện phiền não có thể dùng sức mạnh của cầu nguyện, xoa dịu tâm hồn, bình tâm lại và không dùng rượu để giải sầu”

不只民間呼籲重視漁工權益,政府監察委員王幼玲、王美玉、蔡崇義調查並訪談外籍漁工後發現,台灣遠洋漁船外籍漁工確實有曾遭受薪資剋扣、工時過長、身分證件遭扣留、仲介強迫簽剝削契約等事情,監察院糾正漁業署、勞動部與外交部共三部會,要求行政院正視遠洋漁船外籍漁工的勞權。

Không chỉ người dân kêu gọi coi trọng quyền lợi của thuyền viên, Uỷ viên Viện Kiểm sát Vương Ấu Linh, Vương Mỹ Ngọc, Thái Tông Nghĩa sau khi điều tra và phỏng vấn thuyền viên nước ngoài phát hiện rằng, thuyền viên nước ngoài ở tàu viễn dương Đài Loan đã thực sự bị gặp phải những việc như: trừ tiền lương, thời gian làm việc quá dài, chứng minh thư bị thu giữ, môi giới ép buộc kí hợp đồng bóc lột vv. Kiểm sát viên yêu cầu Sở Ngư nghiệp, Bộ Lao động và Bộ Ngoại giao đều cần phải coi trọng quyền lợi của thuyền viên nước ngoài ở tàu viễn dương.

綠色和平組織發言人則指出,應廢除境外聘僱制度,目前遠洋漁船上的外籍漁工多屬於境外聘雇,毫無勞工權益和保障。勞動部應以《勞基法》保障所有外籍漁工,與本籍漁工享有同樣的照顧。在過渡期間,漁業署必須確保業者完全遵守《境外僱用非我國籍船員許可及管理辦法》,尤其是薪資應完全給付、禁止任意苛扣、境外漁工保險金額的給付應盡速且完全,以及外籍漁工的管理應該完全交由政府機構負責。

Phát ngôn viên Tổ chức Hoà bình xanh chỉ ra rằng, cần phải huỷ bỏ chế độ tuyển dụng nước ngoài, vì hầu hết thuyền viên nước ngoài trên tàu viễn dương đều thuộc chế độ tuyển dụng nước ngoài, không có quyền lợi bảo đảm. Bộ Lao động cần đảm bảo thuyền viên nước ngoài thuộc “Luật lao động cơ bản”, có quyền lợi và bảo đảm như người lao động Đài Loan. Trong giai đoạn chuyển đổi, Sở Ngư nghiệp phải đảm bảo chủ tuyển dụng phải hoàn toàn tuân thủ “Biện pháp quản lý và cấp phép đối với thuyền viên nước ngoài”, đặc biệt là trả tiền lương đầy đủ, cấm không được khấu trừ tuỳ ý, chi phí bảo hiểm cho thuyền viên nước ngoài phải nhanh chóng chi trả, việc quản lý thuyền viên nước ngoài phải thuộc phụ trách của Chính phủ.

Related Articles

Back to top button
Close